Bệnh Suy Thận Có Nguy Hiểm? Định Nghĩa và Phân Loại

Posted on Tin tức 300 lượt xem

Thận là cơ quan nằm về phía lưng dưới mỗi người, phân bố ở hai bên cột sống có vai trò ổn định thể dịch, bài tiết các chất dư thừa từ sự chuyển hóa của cơ thể và một số chức năng khác như bảo tồn hay loại thải các chất khác ra khỏi cơ thể thông qua tiểu tiện.

1. Định nghĩa

Suy thận là tình trạng thận không còn hoạt động hiệu quả nữa. Bình thường thận thực hiện một công việc quan trọng trong cơ thể bằng cách loại bỏ chất thải và chất lỏng dư thừa. Bệnh suy thận gây tử vong nếu không được điều trị thích hợp. Suy thận đôi khi chỉ là tạm thời và phát triển nhanh (cấp tính) nhưng có khi là tình trạng mạn tính (lâu dài) và ngày càng xấu hơn.

2. Phân loại

Dựa vào cơ chế bệnh sinh, suy thận được chia như sau: suy thận cấp và bệnh thận mạn. Suy thận cấp gồm có: trước thận, tại thận và sau thận. Còn bệnh thận mạn được chia thành năm giai đoạn: 1, 2, 3 (a và b), 4, 5; riêng giai đoạn 5 còn gọi là suy thận mạn tính.

2.1 Suy thận cấp

Suy thận cấp trước thận: Xuất hiện khi lưu lượng máu đến thận không đủ, ảnh hưởng đến khả năng đào thải chất độc. Nguyên nhân của tình trạng này do chấn thương, phẫu thuật hoặc các bệnh khác. Triệu chứng thường gặp gồm chán ăn, buồn nôn, nôn, co giật, hôn mê… Suy thận cấp tính trước thận có thể được chữa khỏi nếu bác sĩ xác định chính xác nguyên nhân gây giảm lưu lượng máu đến thận.

Suy thận cấp tại thận: Có thể do chấn thương trực tiếp đến thận như va đập mạnh, tai nạn. Ngoài ra, bệnh cũng xảy ra khi thận phải lọc quá nhiều độc tố, thiếu máu cục bộ hay thiếu oxy đến thận. Trong đó, nguyên nhân gây thiếu máu cục bộ bao gồm chảy máu nghiêm trọng, tắc nghẽn mạch máu thận, viêm cầu thận…

Suy thận cấp sau thận: Bệnh có liên quan đến sự co mạch thận hướng tâm, phát triển để đáp ứng với sự gia tăng mạnh trong ống thận, thường có triệu chứng vô niệu (không có nước tiểu). Bệnh thường xảy ra do đường tiết niệu bị tắc cấp tính như tắc niệu quản hai bên, tắc cổ bàng quang,  hẹp niệu đạo, hình thành khối u, u tuyến, ung thư tuyến tiền liệt, sán máng bàng quang. Ngoài ra, người bệnh bị suy thận cấp tính sau thận có thể do các nguyên nhân khác bao gồm viêm nhú hoại tử, xơ hóa sau phúc mạc và các khối u sau phúc mạc, các bệnh và chấn thương tủy sống. Riêng tắc nghẽn niệu quản một bên thường đủ để phát triển suy thận cấp sau thận ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính.

3.1 Bệnh thận mạn

3.1.1 Giai đoạn 1

Ở giai đoạn 1, eGFR từ 90 ml/phút/1.73 m2 da trở lên cho thấy thận đang hoạt động tốt và không có biểu hiện gì. Ở giai đoạn này, việc duy trì chế độ ăn uống lành mạnh hoặc duy trì hoạt động để làm chậm sự tiến triển của bệnh thận mạn.

3.1.2 Giai đoạn 2

Ở giai đoạn 2, eGFR nằm trong khoảng từ 60 đến 89 ml/phút/1.73 m2 da, thận vẫn còn tương đối khỏe mạnh và hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, nếu được xét nghiệm bệnh thận ở giai đoạn này có thể phát hiện dấu hiệu tổn thương thận như có protein trong nước tiểu. Người bệnh nên trao đổi với bác sĩ về các yếu tố nguy cơ khác có thể làm cho bệnh tiến triển nhanh hơn. Ở giai đoạn này, bệnh thận vẫn có thể làm chậm tiến triển thông qua việc thay đổi lối sống, chế độ ăn uống.

3.1.3 Giai đoạn 3

eGFR ở giai đoạn 3 sẽ nằm trong khoảng từ 30 đến 59 ml/ phút/1.73 m2 da. Chỉ số eGFR giai đoạn 3 cho thấy thận không hoạt động ở mức hiệu quả bền vững. Bệnh thận mạn giai đoạn 3 được chia thành hai giai đoạn: 3A và 3B. Giai đoạn 3A được chia cụ thể thành eGFR trong khoảng từ 45 đến 59 ml/ phút/1.73 m2 da, trong khi giai đoạn 3B biểu thị eGFR trong khoảng từ 30 đến 44 ml/phút/1.73 m2 da. Các triệu chứng có thể  rõ ràng hơn như bị phù, đau lưng, đi tiểu thường xuyên, tiểu bọt nhiều, tiểu đêm… Các biến chứng thường phát triển ở giai đoạn này bao gồm huyết áp cao và thiếu máu.

Ở giai đoạn này của bệnh thận, người bệnh cần tham khảo ý kiến ​​​​bác sĩ chuyên khoa thận và chuyên gia dinh dưỡng thận để có những thay đổi thích hợp cần thiết nhằm làm chậm sự tiến triển của bệnh thận mạn.

3.1.4  Giai đoạn 4

eGFR nằm trong khoảng từ 15 đến 29 ml/phút/1.73 m2 da. Tổn thương thận ở giai đoạn 4 là nghiêm trọng và người bệnh thường sẽ có nhiều triệu chứng thực thể giống như ở giai đoạn 3. Mức chất thải sẽ tiếp tục tăng trong cơ thể, có khả năng dẫn đến bệnh về xương. Ở giai đoạn này, người bệnh cần thường xuyên gặp bác sĩ thận để được đánh giá  liên tục sự tiến triển của bệnh thận mạn và bắt đầu chuẩn bị quyết định các phương án điều trị thay thế thận.

Giữ lối sống lành mạnh và chế độ ăn phù hợp vẫn là yếu tố sống còn để kiểm soát và ngăn suy thận tiến triển. Đồng thời, bác sĩ sẽ chỉ định các phương pháp điều trị phù hợp để làm chậm tổn thương thận.

3.1.5 Giai đoạn 5 (Suy thận mạn hoặc là Bệnh thận mạn giai đoạn cuối)

eGFR của người bệnh giảm xuống dưới 15 ml/phút/1.73 m2 da. Người bệnh có các triệu chứng như khó thở và khó ngủ, chán ăn, bị chuột rút và ngứa… Ở giai đoạn này, lựa chọn điều trị để sống sót là bắt đầu chạy thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng hoặc ghép thận.(2) Đó là lý do tại sao bác sĩ phải tư vấn cho người bệnh về các phương pháp điều trị thay thế thận trước khi bắt đầu giai đoạn 5 để người bệnh có thể chọn một phương án điều trị an toàn trước khi có tình trạng khẩn cấp xảy ra.

Để đặt lịch khám/tư vấn dinh dưỡng, quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp đến tổng đài 0988639117 hoặc nhận tư vấn online tại đây để được các bác sỹ tư vấn trực tiếp và đội ngũ kỹ thuật viên của Dinh Dưỡng Quốc Gia lấy mẫu trực tiếp tại nhà, luôn sẵn lòng phục vụ quý khách.

Dinh Dưỡng Quốc Gia

Dinhduongquocgia.vn với sứ mệnh mang đến những thông tin và dịch vụ y tế tốt nhất nỗ lực từng ngày trong việc trở thành đơn vị cung cấp các dịch vụ y tế hàng đầu trên thị trường cùng những giải pháp linh hoạt và toàn diện nhất.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *