Viêm Gan B: Định Nghĩa, Phân Loại, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán, Phòng Ngừa Và Điều Trị
Viêm gan B là mối đe dọa sức khỏe toàn cầu và là bệnh về gan phổ biến nhất thế giới. Ở giai đoạn mạn tính, tình trạng này có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như xơ gan, suy gan, ung thư gan. Mỗi năm, có hơn 800.000 người tử vong vì viêm gan B và các bệnh lý liên quan.

Định nghĩa
Viêm gan B (tên tiếng Anh Hepatitis B) là bệnh nhiễm trùng do Hepatitis B Virus (HBV) tấn công vào gan, có thể gây nhiễm trùng dai dẳng và mãn tính ở người thông qua dị ứng miễn dịch. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tại Việt Nam tỉ lệ nhiễm virus viêm gan B chiếm 10% – 20% tổng dân số. Đây chính là nguyên nhân gây ra tới hơn 80% các ca bệnh về gan và ung thư gan. Tỉ lệ đồng nhiễm ở người sống chung với HIV cũng vào khoảng 10%. Bệnh xảy ra với các triệu chứng âm thầm, khó phát hiện nếu không chủ động xét nghiệm máu.
Viêm gan B là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng về gan như suy gan, xơ gan, thậm chí là ung thư gan. Chính vì thế, người bệnh tuyệt đối không được chủ quan với loại bệnh lý nguy hiểm này.
Phân loại
Viêm gan B thường chia thành 3 thể: thể không hoạt động (VGB thể ngủ), thể cấp tính và mạn tính.
Thể ngủ có virus tồn tại trong cơ thể nhưng không gây hại cho gan và không biểu hiện triệu chứng. Ngược lại, thể cấp tính và mạn tính có gây ảnh hưởng cho gan.
Viêm gan B cấp tính
Đây là bước đầu khởi phát bệnh. Virus khi đã lây nhiễm vào cơ thể người sẽ có thời gian ủ bệnh từ 3 – 6 tháng (tùy vào thể trạng của từng người). Sau đó, virus HBV sẽ bắt đầu hoạt động và gây ra viêm gan B cấp tính. Người bị viêm gan B cấp tính thường không có triệu chứng hoặc chỉ bị nhẹ, tuy nhiên cũng có trường hợp tình trạng trở nên nghiêm trọng khiến người bệnh phải nhập viện để điều trị.
Nhiều người mắc viêm gan B cấp, đặc biệt là những người bị nhiễm bệnh ở độ tuổi trưởng thành, có thể tự đào thải virus ra khỏi cơ thể nhờ hoạt động của hệ miễn dịch, và bình phục hoàn toàn sau vài tháng mà không để lại bất cứ di chứng nào. Có đến 90% người trưởng thành bị nhiễm HBV tự khỏi bệnh. Trường hợp ngược lại, nếu hệ miễn dịch không thể loại bỏ được virus, viêm gan B cấp sẽ tiến triển sang dạng mãn tính.
Viêm gan B mạn tính
Nếu sau khoảng thời gian 6 tháng bị viêm gan B cấp tính, cơ thể của người bệnh không thể hình thành miễn dịch với virus thì bệnh sẽ tiếp tục chuyển sang giai đoạn viêm gan B mạn tính. Lúc này, người bệnh xác định là sẽ mang virus cả đời, theo thời gian, viêm gan mạn tính có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm tổn thương viêm gan, suy gan, xơ gan, ung thư gan và thậm chí tử vong.
Khả năng viêm gan B tiến triển thành mạn tính phụ thuộc vào độ tuổi của người nhiễm bệnh. Người nhiễm có độ tuổi càng trẻ thì khả năng viêm gan phát triển thành mạn tính càng cao. Cụ thể, theo WHO, có đến 80–90% trẻ sơ sinh bị nhiễm bệnh trong năm đầu đời và 30–50% trẻ em bị nhiễm bệnh trước 6 tuổi phát triển thành nhiễm trùng gan mạn tính. Trong khi đó, tỷ lệ này ở người trưởng thành mắc bệnh thấp hơn rất nhiều (dưới 5%).
III. Nguyên nhân
Nguyên nhân trực tiếp gây ra bệnh viêm gan B là do virus Hepatitis B. Đây là virus tấn công vào gan, từ đó hình thành nên bệnh.
Virus Hepatitis B có thể tồn tại môi trường bên ngoài cơ thể ít nhất 7 ngày. Trong thời gian này, virus có thể gây nhiễm trùng nếu xâm nhập vào cơ thể người và không có vaccine bảo vệ. Thời gian ủ bệnh của virus HBV trung bình là 75 ngày, nhưng cũng có thể thay đổi từ 35-180 ngày. Virus có thể được phát hiện kịp thời trong vòng từ 30-60 ngày sau khi nhiễm và sau đó có thể tồn tại và phát triển thành viêm gan B mạn tính.
Các con đường lây nhiễm chính của virus này tương tự virus HIV, tuy nhiên khả năng lây nhiễm của HBV cao hơn so với HIV.
Có 2 cách lây nhiễm HBV là: lây nhiễm theo chiều dọc (vertical contamination) và theo chiều ngang (horizontal contamination).
-
Lây nhiễm theo chiều dọc
Là lây nhiễm từ mẹ sang con, đa số xảy ra trong thời kỳ chu sinh hay những tháng đầu sau sinh, không lây nhiễm qua nhau thai. Ở những vùng lưu hành HBsAg cao, kiểu lây nhiễm này là quan trọng nhất, thường gặp ở những nước vùng châu Á.
Mức độ lây nhiễm tùy thuộc vào nồng độ HBV DNA và tình trạng HBeAg của mẹ vào 3 tháng cuối thai kỳ. Mẹ có HBeAg (+), trẻ sơ sinh có 95% nguy cơ bị nhiễm nếu không được điều trị dự phòng miễn dịch. Mẹ có HBeAg (-), tỷ lệ lây nhiễm cho con là 32%. Tỷ lệ lây nhiễm cho con tăng lên từ 0% nếu HBV DNA của mẹ thấp hơn 105 copies/ml đến 50% nếu HBVDNA của mẹ từ 109 – 1010 copies/ml . 28-39% trẻ vẫn bị nhiễm dù đã chích ngừa HBV sau sanh nếu HBVDNA của mẹ từ 109copies/ml trở lên.
HBsAg có trong sữa mẹ với nồng độ rất thấp do đó lây truyền chủ yếu là do trẻ bú cắn vào vú mẹ gây trầy sước.
-
Lây nhiễm theo chiều ngang
Có hai kiểu lây nhiễm chính là lây nhiễm qua đường tình dục và lây nhiễm khi tiếp xúc với máu, cac vật phẩm của máu hay dịch tiết của người bị nhiễm HBV. HBV không lây truyền qua thức ăn, nước uống và tiếp xúc thông thường.
Máu và vật phẩm của máu là yếu tố lây nhiễm quan trọng nhất vì có lượng HBV cao.
HBV được tìm thấy trong dịch âm đạo, tinh dịch với nồng độ thấp so với trong huyết tương hơn 100 lần. Các dịch khác như dịch màng bụng, màng phổi, dịch não tủy…cũng có chứa HBV.
Sữa, nước bọt, mồ hôi, nước tiểu, phân, dịch mật cũng có chứa HBV nhưng với nồng độ rất thấp, vì vậy khả năng lây nhiễm qua các dịch này cũng rất thấp.
Lây qua đường tình dục, qua sử dụng chung kim tiêm (chích thuốc, châm cứu, xăm, xỏ khuyên trên cơ thể như xỏ lổ tai, lổ mũi…) với người bị nhiễm HBV là kiểu lây theo chiều ngang thường gặp nhất. Dùng chung bàn chải đánh răng và dao cạo râu có dính máu hay dịch của người bị nhiễm cũng có thể bị lây nhiễm HBV.
-
Triệu chứng
-
Triệu chứng viêm gan B cấp tính
Trong viêm gan B cấp, 70% bệnh nhân có thể hoàn toàn không có triệu chứng hay không vàng da, 30% có vàng da. 0.1% – 0.5% bệnh nhân bị viêm gan thể bùng phát (fulminant hepatitis) gây suy gan cấp.
Bệnh nhân có có thể trải qua 4 giai đoạn và tự phục hồi hoàn toàn.
- Giai đoạn ủ bệnh: Virus nhân đôi và lan truyền nhưng không có triệu chứng lâm sàng.
- Giai đoạn tiền vàng da: triệu chứng không đặc hiệu. Hội chứng giống cúm: Mệt mỏi, suy nhược, sốt nhẹ; ho, đau đầu, đau cơ; mề đay, đau khớp; buồn nôn, chán ăn, thay đổi vị giác; đau hạ sườn phải do gan lớn.
- Giai đoạn vàng da: sau 3-7 ngày, các triệu chứng toàn thân giảm, bệnh nhân khỏe hơn nhưng mệt, suy nhược có thể vẫn còn. Gan vẫn to, đau, sờ mềm trơn láng. Lách to nhẹ (15-20%). Vàng da ngày càng tăng. Nước tiểu sậm màu, phân có thể bạc màu.
- Giai đoạn phục hồi: Sau 4-8 tuần từ khi có triệu chứng đầu tiên, vàng da giảm dần sau 2-4 tuần, ăn ngon hơn.
-
Triệu chứng viêm gan B mãn tính
Thường những người bị viêm gan B mãn tính không có bất kỳ triệu chứng nào trong nhiều năm. Nếu có xuất hiện triệu chứng, chúng sẽ tương tự như các triệu chứng của viêm gan B cấp tính. Trường hợp người bệnh đã mắc viêm gan B trong một khoảng thời gian dài mới biểu hiện triệu chứng thì khả năng cao đó là triệu chứng của các biến chứng nguy hiểm của viêm gan B như xơ gan hoặc ung thư gan, chứ không chỉ đơn thuần là viêm gan nữa.
-
Chẩn đoán
-
Chẩn đoán xác định viêm gan B cấp
-
a) Thể vàng da điển hình:
- Có tiền sử truyền máu hay các chế phẩm của máu, tiêm chích, quan hệ tình dục không an toàn trong khoảng từ 4 tuần đến 6 tháng.
- Lâm sàng: có thể có các triệu chứng chán ăn, mệt mỏi, vàng da, tiểu ít sẫm màu, đau tức vùng gan, nôn, buồn nôn, phân bạc màu…
- Cận lâm sàng:
- AST, ALT tăng cao (thường tăng trên 5 lần so với giá trị bình thường).
- Bilirubin tăng cao, chủ yếu là Bilirubin trực tiếp.
- HBsAg (+) hoặc (-) và anti-HBc IgM (+)
-
b) Một số thể lâm sàng khác:
– Thể không vàng da:
+ Lâm sàng: có thể có mệt mỏi, chán ăn, đau cơ.
+ Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, anti-HBc IgM (+) và HBsAg (+/-).
– Thể vàng da kéo dài:
+ Lâm sàng: Có các triệu chứng lâm sàng giống như thể điển hình, kèm
theo có ngứa. Tình trạng vàng da thường kéo dài trên 6 tuần, có khi 3-4 tháng.
+ Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, Bilirubin tăng cao, chủ yếu là
Bilirubin trực tiếp, HBsAg (+) hoặc (-) và anti-HBc IgM (+).
– Thể viêm gan tối cấp:
+ Lâm sàng: Người bệnh có biểu hiện suy gan cấp kèm theo các biểu hiện
của bệnh lý não gan.
+ Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, Bilirubin tăng cao, chủ yếu là
Bilirubin trực tiếp, HBsAg (+) hoặc (-) và anti-HBc IgM (+), thời gian đông máu
kéo dài, giảm tiêu cầu.
-
Chẩn đoán viêm gan B mãn tính
– HBsAg (+) > 6 tháng hoặc HBsAg (+) và Anti HBc IgG (+).
– AST, ALT tăng từng đợt hoặc liên tục trên 6 tháng.
– Có bằng chứng tổn thương mô bệnh học tiến triển, xơ gan (được xác định bằng sinh thiết gan hoặc đo độ đàn hồi gan hoặc Fibrotest hoặc chỉ số APRI) mà không do căn nguyên khác
-
Phòng ngừa
-
Phòng chủ động
– Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B cho tất cả trẻ em trong vòng 24h sau sinh và các mũi tiếp theo lúc 2, 3 và 4 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng.
– Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B cho các đối tượng chưa bị nhiễm HBV. Cần xét nghiệm HBsAg và anti-HBs trước khi tiêm phòng vắc xin.
– Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B cho nhân viên y tế.
-
Phòng lây truyền từ mẹ sang con
– Nếu mẹ mang thai có HBsAg (+): Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B liều sau sinh cho trẻ theo chương trình tiêm chủng mở rộng và phối hợp với tiêm kháng thể kháng HBV cho trẻ. Nên tiêm cùng thời điểm nhưng ở hai vị trí khác nhau. Sau đó tiêm đầy đủ các liều vắc xin viêm gan vi rút B cho trẻ theo quy định của chương trình tiêm chủng mở rộng.
– Nếu mẹ mang thai có HBV-DNA > 106 copies/ml (200.000 IU/mL): Dùng thuốc kháng vi rút (lamivudine hoặc tenofovir) từ 3 tháng cuối của thai kỳ. Xét nghiệm lại HBV DNA sau sinh 3 tháng để quyết định ngừng thuốc hoặc tiếp tục điều trị nếu mẹ đủ tiêu chuẩn điều trị. Theo dõi sát người mẹ để phát hiện viêm gan bùng phát.
-
Phòng không đặc hiệu
– Sàng lọc máu và chế phẩm máu.
– Không dùng chung kim tiêm và các dụng cụ xuyên chích qua da khác.
– Tình dục an toàn.
– Tránh tiếp xúc với máu và các dịch tiết của bệnh nhân nhiễm HBV.
– Thực hiện phòng ngừa chuẩn giống các bệnh lây truyền qua đường máu.
VII. Điều trị
-
Điều trị ngăn ngừa lây nhiễm viêm gan B sau khi phơi nhiễm
Nếu nghi ngờ mình đã tiếp xúc với virus viêm gan B và không chắc bản thân đã được tiêm phòng hay chưa, người bệnh cần ngay lập tức liên hệ với bác sĩ. Tiêm globulin miễn dịch trong vòng 12 giờ sau khi tiếp xúc với virus có thể giúp bạn tránh mắc bệnh.
-
Điều trị viêm gan siêu vi B cấp tính
Viêm gan B cấp tính thường chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và có thể tự khỏi. Do đó, thay vì điều trị bằng các phương pháp y khoa, bác sĩ có thể hướng dẫn người bệnh nghỉ ngơi, ăn uống đủ chất và uống nhiều nước để hỗ trợ cơ thể chống lại nhiễm trùng.
Trong một số trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có thể cần dùng thuốc kháng virus hoặc nhập viện để ngăn ngừa các biến chứng.
-
Điều trị viêm gan B mãn tính
Hầu hết người được chẩn đoán viêm gan B mãn tính sẽ cần điều trị suốt đời. Việc điều trị giúp giảm nguy cơ biến chứng ở gan nguy hiểm và phòng ngừa lây nhiễm cho người khác. Các phương pháp điều trị nhiễm trùng gan mãn tính bao gồm:
- Thuốc ức chế sao chép virus viêm gan B: Có thể giúp người bệnh chống lại virus và làm chậm khả năng gây hại cho gan. Hai loại thuốc cơ bản hiện nay là Entecavir 0,5mg, Tenofovir (gồm 2 loại TDF300mg và TAF25mg). Các thuốc này được sử dụng theo đường uống.
- Thuốc tiêm interferon: Có tác dụng kích thích hệ miễn dịch tiêu diệt virus và các tế bào bị virus xâm nhập. Thuốc tiêm interferon có thể gây ra các tác dụng phụ như buồn nôn, nôn, mệt mỏi, chán ăn, khó thở…
- Ghép gan: Trường hợp gan đã bị tổn thương nghiêm trọng (xơ gan giai đoạn cuối), bác sĩ có thể đề nghị ghép gan để điều trị tình trạng này. Ghép gan là việc thay thế một phần hoặc toàn bộ lá gan hư hỏng của người bệnh bằng gan khỏe mạnh.
-
Lưu ý trong sinh hoạt và ăn uống để hạn chế viêm gan tiến triển
Bệnh nhân viêm gan B nên xây dựng chế độ ăn uống lành mạnh để bệnh tình tiến triển tốt và ngăn ngừa các biến chứng. Cụ thể, người bệnh nên có chế độ ăn đủ chất, bổ sung thực phẩm giàu đạm tốt (cá, sữa tươi, các loại đậu…), ngũ cốc nguyên hạt, rau xanh, trái cây và nên chọn các thức ăn mềm, dễ tiêu hóa.
Bên cạnh đó, người bệnh cần hết sức tránh những thực phẩm có hại cho gan và đường tiêu hóa như thực phẩm chiên rán, nhiều dầu mỡ, thực phẩm nhiều cholesterol như nội tạng động vật, lòng đỏ trứng, tôm…, thực phẩm có tính nóng như thịt dê, baba, thịt chó…, không ăn thức ăn quá nhiều đường, quá mặn, quá cay hoặc chưa được nấu chín. Quan trọng nhất là người bệnh cần tuyệt đối kiêng rượu bia, chất kích thích vì chúng sẽ gây hại trực tiếp cho gan.
Ngoài chế độ ăn, người bệnh cũng nên:
- Tiêm phòng viêm gan A và xét nghiệm viêm gan C
- Duy trì cân nặng ở mức hợp lý
- Vận động nhẹ nhàng, thường xuyên
- Giữ tâm trạng thoải mái, tránh lo âu, căng thẳng
- Thông báo với bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc kê đơn, chất bổ sung hoặc thảo dược nào vì chúng có thể làm giảm hiệu quả của thuốc điều trị hoặc gây hại cho gan.





