Viêm Gan C: Định nghĩa, Phân Loại, Nguyên Nhân, Triệu chứng, Chẩn Đoán, Phòng ngữa Và Điều Trị

Posted on Tin tức 357 lượt xem

Bên cạnh virus viêm gan B và rượu, virus viêm gan C là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây viêm gan mãn tính, xơ gan và ung thư gan. Điều đáng nói là viêm gan C không biểu hiện triệu chứng rõ ràng, có đến 90% người bệnh không biết mình mắc bệnh.

1. Định nghĩa

Viêm gan C (Hepatitis C virus – HCV) là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến và là vấn đề sức khỏe có tính toàn cầu. HCV gây ảnh hưởng chủ yếu tại gan, gây viêm gan cấp và mạn, hậu quả có thể dẫn đến xơ gan, ung thư gan. Tuy nhiên bệnh viêm gan C chưa thực sự được mọi người quan tâm.

Hàng năm trên thế giới có khoảng 3% dân số mắc bệnh viêm gan C và có khoảng 170 triệu người lành mang virut viêm gan C. Bệnh khiến các tế bào gan bị viêm, gây rối loạn chức năng gan. Theo thời gian, tình trạng viêm trong mô gan có thể hình thành các tổn thương xơ chai vĩnh viễn, dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như xơ gan và ung thư gan.

2. Phân loại

Viêm gan C chia thành 2 giai đoạn cấp tính và mãn tính:

a. Viêm gan C cấp tính

Viêm gan C cấp tính là tình trạng nhiễm trùng ngắn hạn, kéo dài trong vòng 6 tháng sau khi virus xâm nhập vào cơ thể. Có khoảng 15 – 25% trường hợp nhiễm virus C tự khỏi hẳn, không cần điều trị đặc hiệu nào. Tuy nhiên, đa số trường hợp viêm gan cấp tính đều dẫn đến mãn tính.

b. Viêm gan C mãn tính

Viêm gan C mãn tính là tình trạng nhiễm trùng kéo dài trên 6 tháng. Nếu không được điều trị, bệnh có thể tồn tại suốt đời và gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm suy chức năng gan, xơ gan, ung thư gan và thậm chí tử vong. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, toàn cầu hiện có khoảng 71 triệu người đang bị nhiễm virus viêm gan C mãn tính.

3. Nguyên nhân

HCV lây truyền chủ yếu qua phơi nhiễm qua đường tiêm truyền với máu hoặc dịch cơ thể có chứa máu. Các phơi nhiễm có thể xảy ra bao gồm:

  • Sử dụng ma túy qua đường tiêm chích
  • Lây truyền dọc từ mẹ sang con

Mặc dù ít gặp hơn nhưng HCV cũng có thể lây lan qua:

  • Quan hệ tình dục với người nhiễm HCV (một phương tiện lây truyền không hiệu quả, mặc dù nam giới nhiễm HIV quan hệ tình dục đồng giới [MSM] có nguy cơ lây truyền qua đường tình dục cao hơn)
  • Dùng chung các vật dụng cá nhân bị nhiễm máu truyền nhiễm, chẳng hạn như dao cạo râu hoặc bàn chải đánh răng
  • Các thủ tục chăm sóc sức khỏe khác liên quan đến các thủ tục xâm lấn, chẳng hạn như tiêm (thường được ghi nhận trong bối cảnh dịch bệnh bùng phát)
  • Xăm mình không được kiểm soát
  • Nhận máu, sản phẩm máu và nội tạng được hiến tặng (hiếm ở Hoa Kỳ kể từ khi sàng lọc máu có sẵn vào năm 1992)
  • Chấn thương do kim đâm ở cơ sở chăm sóc sức khỏe

Virus HCV không lây qua sữa mẹ, thức ăn hay nước uống. HCV cũng không lây khi ôm, bắt tay hay hôn người bị bệnh.

4. Triệu chứng

a. Viêm gan C cấp tính

Theo WHO, khoảng 80% bệnh nhân nhiễm HCV cấp tính là không có triệu chứng, trong một số báo cáo khoảng 2/3 số người bệnh nhiễm HCV cấp không có biểu hiện lâm sàng. Thời kỳ ủ bệnh của nhiễm HCV cấp trung bình từ 15 đến 160 ngày. Triệu chứng thường gặp như: mệt mỏi, chán ăn, sốt nhẹ và cảm giác ớn lạnh, ngứa, đau mỏi người, đau mỏi cơ, rối loạn tâm trạng, đau khớp; rối loạn đại tiểu tiện như đầy bụng, khó tiêu, đại tiện phân lúc lỏng lúc táo. Trường hợp rõ hơn là vàng da, nước tiểu sẫm màu, phân sẫm màu, buồn nôn và nôn, đau bụng chủ yếu vùng hạ sườn phải.

c. Viêm gan C mãn tính

Hầu hết những người bị nhiễm HCV mãn tính đều không có triệu chứng hoặc có các triệu chứng không đặc hiệu như mệt mỏi mãn tính và trầm cảm. Nhiều người cuối cùng phát triển bệnh gan mãn tính, có thể từ nhẹ đến nặng, bao gồm xơ gan và ung thư gan. Bệnh gan mãn tính ở người nhiễm HCV thường diễn biến âm thầm, tiến triển chậm mà không có bất kỳ dấu hiệu hay triệu chứng nào trong nhiều thập kỷ. Trên thực tế, nhiễm HCV thường không được phát hiện cho đến khi những người không có triệu chứng được xác định là dương tính với HCV khi sàng lọc hiến máu hoặc khi phát hiện thấy nồng độ alanine aminotransferase (ALT, một loại men gan) tăng cao trong quá trình kiểm tra định kỳ.

5. Chẩn đoán

Viêm gan C thường không có triệu chứng vì vậy mà ít người được chẩn đoán khi mới bị nhiễm bệnh. Phần lớn các trường hợp được phát hiện khi sàng lọc hiến máu, xét nghiệm máu trong kỳ khám sức khỏe định kỳ hoặc xét nghiệm vì một nguyên nhân khác.

Xét nghiệm đầu tiên được sử dụng để xác định nhiễm viêm gan C là xét nghiệm Anti-HCV. Anti-HCV dương tính cho thấy một người đã hoặc đang nhiễm HCV, cần làm thêm xét nghiệm HCV RNA hoặc HCVcAg để khẳng định.

Trường hợp Anti-HCV âm tính có nghĩa là không nhiễm HCV. Nhưng một số người bị viêm gan C vẫn có thể có kết quả Anti-HCV âm tính trong trường hợp:

– Viêm gan C cấp tính trong vài tuần đầu.

– HCV ở người suy giảm miễn dịch nặng như người nhiễm HIV, chạy thận nhân tạo, điều trị bằng các thuốc ức chế miễn dịch.

Khi đó cần làm xét nghiệm HCV RNA hoặc HCVcAg để khẳng định.

Nếu các xét nghiệm cho thấy người bệnh bị viêm gan C mãn tính hoặc có dấu hiệu tổn thương gan, bác sĩ có thể chỉ định người bệnh thực hiện các xét nghiệm kiểm tra hoạt động của gan, như xét nghiệm chức năng gan, hình ảnh ảnh gan qua siêu âm bụng, độ xơ chai gan qua siêu âm đàn hồi hoặc chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ gan phát hiện u gan, xét nghiệm máu tầm soát sớm ung thư tế bào gan…

6. Phòng ngừa

Không giống nư viêm gan A và viêm gan B, hiện nay chưa có vaccine phòng bệnh viêm gan C, vì vậy cách duy nhất để phòng ngừa là tránh lây nhiễm virus HCV như:

– Không sử dụng chung kim tiêm.

– Quan hệ tình dục an toàn.

– Tránh tiếp xúc với máu.

– Xử lý thiết bị, dụng cụ y tế đúng cách.

– Không dùng chung các vật dụng cá nhân có thể dính máu.

– Thận trọng khi xăm và xỏ khuyên.

– Hạn chế du lịch đến khu vực lưu hành virus HCV.

Khuyến nghị: Tất cả mọi người từ 18 tuổi trở lên nên làm xét nghiệm Anti-HCV để tầm soát viêm gan C. Ngoài ra, phụ nữ mang thai và người có yếu tố nguy cơ nhiễm HCV cũng nên làm xét nghiệm này. Ở người có yếu tố nguy cơ cần kiểm tra HCV định kỳ miễn là vẫn còn các yếu tố nguy cơ.

7. Điều trị

a. Điều trị viêm gan C cấp tính

Khoảng 20-50% người bệnh nhiễm HCV cấp có thể tự khỏi

– Điều trị hỗ trợ: nghỉ ngơi và điều trị triệu chứng.

– Điều trị đặc hiệu:

+ Điều trị sofosbuvir/velpatasvir hoặc glecaprevir/pibrentasvir trong thời gian 8 tuần

+ Xét nghiệm tải lượng HCV RNA ở tuần thứ 12 sau điều trị để đánh giá khả năng khỏi bệnh (đạt SVR 12).

b. Điều trị viêm gan C mãn tính

Đối với viêm gan C mãn tính, điều trị được khuyến cáo cho tất cả các bệnh nhân, ngoại trừ những người có tuổi thọ ngắn do mắc đồng thời nhiều bệnh lý mà không thể điều trị bằng liệu pháp HCV, ghép gan hoặc một liệu pháp được chỉ dẫn khác.

Mục tiêu của điều trị là loại bỏ vĩnh viễn HCV RNA (tức là SVR), có liên quan đến việc bình thường hóa vĩnh viễn nồng độ aminotransferase và hạn chế tiến triển trên mô học. Kết quả điều trị thuận lợi hơn ở những bệnh nhân ít xơ hóa hơn so với những bệnh nhân bị xơ gan.

Trước đây, 2 loại thuốc được sử dụng nhiều là interferon và ribavirin nhưng những loại thuốc này không có hiệu quả cao trong quá trình điều trị và còn có thể gây ra nhiều tác dụng phụ.

Trong thời gian gần đây, một loại thuốc mới có thể mang lại hiệu quả cao trong điều trị, đó là thuốc kháng virus tác dụng trực tiếp kiểu gen (DAAs). Một ưu điểm khác của loại thuốc này là ít gây tác dụng phụ.

Thời gian điều trị nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào mức độ bệnh và từng bệnh nhân cụ thể. Tuy nhiên, thông thường quá trình điều trị viêm gan C có thể kéo dài từ 8 đến 12 tuần, cũng có nhiều trường hợp cần điều trị trong 16 tuần, thậm chí 24 tuần do xuất hiện tổn thương nặng ở gan nhưng những trường hợp này thường rất hiếm.

Khi lượng virus giảm thấp và không phát hiện virus trong máu sau 2 tuần sử dụng thuốc thì được coi là điều trị thành công và có thể kết thúc điều trị.

Dinh Dưỡng Quốc Gia

Dinhduongquocgia.vn với sứ mệnh mang đến những thông tin và dịch vụ y tế tốt nhất nỗ lực từng ngày trong việc trở thành đơn vị cung cấp các dịch vụ y tế hàng đầu trên thị trường cùng những giải pháp linh hoạt và toàn diện nhất.