Hiện nay, HIV là bệnh truyền nhiễm gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tính mạng con người cũng như hệ thống y tế, kinh tế và xã hội. Mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 10.000 ca nhiễm HIV mới và có khoảng 2.000 ca tử vong do HIV/AIDS. Mặt khác vẫn còn rất nhiều người nhiễm HIV trong cộng đồng chưa biết đến tình trạng của mình.
1. Định nghĩa
HIV “Human Immunodeficiency Virus” là virus tấn công hệ miễn dịch gây suy giảm chức năng miễn dịch ở người, làm cho cơ thể giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
Qua thời gian, chúng gây hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS), tình trạng mà hệ miễn dịch ngày càng suy yếu cho phép ung thư và các loại nhiễm trùng cơ hội phát triển. Nếu không điều trị, thời gian sống sót trung bình của người nhiễm HIV ước tính từ 9 đến 11 năm.
2. Phân loại
Có hai types HIV: HIV-1 và HIV-2. Cả hai types đều lây truyền qua quan hệ tình dục, qua máu và từ mẹ sang con, và hình như bệnh cảnh lâm sàng AIDS của chúng giống nhau. Tuy nhiên, dường như HIV-2 khó lây truyền hơn, và thời kỳ giữa sơ nhiễm HIV-2 đến biểu hiện bệnh dài hơn.
a. HIV-1
HIV-1 bắt nguồn từ Trung Phi vào nửa đầu thế kỷ 20, khi một con tinh tinh có liên quan đến vi rút đầu tiên đã lây nhiễm cho người.
HIV-1 gây ra hầu hết các trường hợp nhiễm HIV trên toàn thế giới, hầu hết những người nhiễm HIV-1 đều tiến triển thành AIDS.
b. HIV-2
HIV-2 (bắt nguồn từ loài khỉ Sooty Mangabey ở châu Phi).
Nhiều người nhiễm HIV-2 vẫn không có triệu chứng trong thời gian dài nên giả thuyết cho rằng HIV-2 có thể bảo vệ chống lại sự lây nhiễm tiếp theo. HIV-2 có đặc điểm là khả năng lây truyền thấp hơn và giảm khả năng tiến triển thành AIDS.
3. Nguyên nhân
Sự lây truyền HIV đòi hỏi phải tiếp xúc với dịch cơ thể – cụ thể là máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, sữa mẹ hoặc dịch tiết từ vết thương hoặc tổn thương da và niêm mạc – có chứa vi rút HIV tự do hoặc tế bào bị nhiễm bệnh. Khả năng lây truyền hay gặp hơn khi có nồng độ vi rút cao thường điển hình với nhiễm trùng ban đầu,hoặc ngay cả khi không có triệu chứng. Sự lây truyền qua nước bọt hay giọt bắn do ho hoặc hắt hơi, mặc dù có thể có khả năng, nhưng rất khó xảy ra.
HIV không lây truyền qua tiếp xúc không liên quan đến trao đổi dịch cơ thể.
Đường lây truyền thường gặp:
- Tình dục: Lây truyền trực tiếp qua quan hệ tình dục. Các hành vi tình dục như thủ dâm (quan hệ tình dục bằng miệng với nam) và cunnilingus (quan hệ tình dục bằng miệng với nữ) dường như có nguy cơ tương đối thấp nhưng không an toàn tuyệt đối. Các hành vi tình dục có nguy cơ cao nhất là những loại gây tổn thương niêm mạc, thường là giao hợp. Giao hợp qua đường trực tràng có nguy cơ cao nhất.
- Kim tiêm hoặc dụng cụ liên quan: Dùng chung kim tiêm có máu hoặc tiếp xúc với dụng cụ bị ô nhiễm
- Truyền máu hoặc liên quan đến ghép tạng
- Theo chiều dọc: Lây truyền từ mẹ bị nhiễm bệnh sang con trong khi mang thai, sinh nở hoặc qua sữa mẹ. Nguy cơ lây truyền theo chiều dọc tổng thể mà không dùng thuốc kháng vi rút là 35% đến 45%.
4. Triệu chứng
a. Nhiễm HIV ban đầu (Thời kỳ cửa sổ)
Ban đầu, nhiễm HIV nguyên phát có thể không có triệu chứng hoặc gây triệu chứng không đặc hiệu tạm thời (hội chứng nhiễm vi rút cấp tính).
Giai đoạn khi mà người bệnh vừa tiếp nhận các chất dịch cơ thể từ người nhiễm trước đó, virus giai đoạn này nhân lên rất nhanh. Khoảng 2-4 tuần sau phơi nhiễm, hầu hết bệnh nhân sẽ mắc bệnh cúm với triệu chứng phổ biến bao gồm: sốt, nổi hạch, viêm họng, phát ban, đau cơ, khó chịu, lở miệng và thực quản. Ít phổ biến hơn có thể kể đến như nhức đầu, buồn nôn và nôn, sưng gan lách, sút cân và các triệu chứng thần kinh khác. Thời gian của các triệu chứng trung bình là 28 ngày và ngắn nhất là 1 tuần. Vì các tính chất không rõ ràng của triệu chứng nên bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu của HIV.
b. Giai đoạn mãn tính:
Đây là giai đoạn mà sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính
Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần đến 20 năm tùy trường hợp, trong suốt thời gian này HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết nên các hạch này thường xuyên bị sưng do phản ứng với một lượng lớn virus.
Bệnh nhân vẫn khả năng lây bệnh trong giai đoạn này
c. Giai đoạn AIDS:
Giai đoạn này xảy ra khi sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và xuất hiện nhiễm trùng do một loạt các vi sinh vật cơ hội gây ra
Khởi phát của các triệu chứng có thể là giảm cân vừa phải và không giải thích được, nhiễm trùng đường hô hấp tái phát (viêm phế quản, viêm họng, viêm tai giữa), viêm da, loét miệng, phát ban da
Đặc trưng của sự mất sức đề kháng nhanh là sẽ nhanh chóng bị nhiễm vi nấm Candida species gây nấm miệng hoặc nhiễm vi khuẩn gây bệnh lao. Sau đó, các virus herpes tiềm ẩn sẽ được kích hoạt gây tổn thương ngày càng nặng và đau đớn như: bệnh zona, ung thư hạch bạch huyết,…
Viêm phổi do nấm cũng phổ biến và thường gây tử vong.
5. Chẩn đoán
a. Chẩn đoán HIV ở người lớn và trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên
Nhiễm HIV ở người lớn và trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên được chẩn đoán trên cơ sở xét nghiệm kháng thể HIV. Một người được xác định là nhiễm HIV khi có mẫu huyết thanh dương tính cả ba lần xét nghiệm kháng thể HIV bằng ba loại sinh phẩm khác nhau với nguyên lý phản ứng và phương pháp chuẩn bị kháng nguyên khác nhau.
b. Chẩn đoán HIV ở trẻ dưới 18 tháng tuổi
Thực hiện kỹ thuật phát hiện acid nucleic (nucleic acid test – NAT) để phát hiện DNA/RNA của HIV theo hướng dẫn quốc gia về xét nghiệm HIV để khẳng định nhiễm HIV cho trẻ dưới 18 tháng tuổi. Nếu xét nghiệm NAT lần 2 âm tính, làm xét nghiệm NAT lần 3.
6. Phòng ngừa
Dựa vào đường lây nhiễm HIV, có các biện pháp phòng sau:
- Phòng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường tình dục
– Sống lành mạnh, chung thuỷ một vợ một chồng và cả hai người đều chưa bị nhiễm HIV. Không quan hệ tình dục bừa bãi.
– Trong trường hợp quan hệ tình dục với một đối tượng chưa rõ có bị nhiễm HIV không, cần phải thực hiện tình dục an toàn để bảo vệ cho bản thân bằng cách sử dụng bao cao su đúng cách.
– Phát hiện sớm và chữa trị kịp thời các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS vì những tổn thương do nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục sẽ là cửa vào lý tưởng cho HIV
- Phòng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường máu
– Không tiêm chích ma túy.
– Chỉ truyền máu và các chế phẩm máu khi thật cần thiết, và chỉ nhận máu và các chế phẩm máu đã xét nghiệm HIV.
– Chỉ sử dụng bơm kim tiêm vô trùng. Không dùng chung bơm kim tiêm. Sử dụng dụng cụ đã tiệt trùng khi phẫu thuật, xăm, xỏ lỗ, châm cứu…
– Tránh tiếp xúc trực tiếp với các dịch cơ thể của người nhiễm HIV
– Dùng riêng đồ dùng cá nhân: dao cạo, bàn chải răng, bấm móng tay,…
- Phòng nhiễm HIV/AIDS lây truyền từ mẹ sang con
– Người phụ nữ bị nhiễm HIV thì không nên có thai vì tỷ lệ lây truyền HIV sang con là 30%, nếu đã có thai thì không nên sinh con.
– Trường hợp muốn sinh con, cần đến cơ sở y tế để được tư vấn về cách phòng lây nhiễm HIV cho con.
– Sau khi đẻ nếu có điều kiện thì nên cho trẻ dùng sữa bò thay thế sữa mẹ.
7. Điều trị
Hiện nay việc điều trị HIV/AIDS chỉ có thể là điều trị triệu chứng và kéo dài thời gian sống cho người bệnh. Thuốc AntiRetrovirut (ARV) có thể làm hạn chế sự sinh sôi, phát triển của virus HIV, tăng thời gian sống cho người bệnh.
- Điều trị dự phòng phơi nhiễm
Điều trị dự phòng phơi nhiễm nhằm ngăn chặn HIV xâm nhập vào tế bào. Thời điểm điều trị tốt nhất là 6 giờ sau khi có tiếp xúc đến tối đa 72 giờ, bằng thuốc kháng sinh (ARV) trong vòng 4 tuần
- Điều trị phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con
Là điều trị bằng ARV cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV và trẻ mới sinh từ mẹ có HIV. Tùy theo tình trạng nhiễm HIV của bà mẹ và thờiđiểm mang thai sẽ có những chỉ định điều trị thích hợp. Trẻ sinh ra cũng được uống ARV trong 24 giờ đầu sau khi sinh và sau đó được tiếp tục theo dõi tại các bệnh viện Nhi đồng. Việc điều trị này làm giảm đáng kể tỉ lệ trẻ nhiễm HIV từ 30% xuống còn khoảng 6%.
- Điều trị nhiễm trùng cơ hội
Nhiễm trùng cơ hội là những bệnh nhiễm trùng xuất hiện khi cơ thể bị suy giảm miễn dịch do HIV như tiêu chảy, nấm miệng, giời leo, herpes, lao, viêm não…
Người nhiễm HIV/AIDS có thể phòng ngừa các nhiễm trùng cơ hội bằng các biện pháp giữ vệ sinh tối đa trong ăn uống, sinh hoạt hàng ngày, tiêm chủng phòng ngừa các bệnh như viêm gan, viêm não… và điều trị phòng ngừa bằng kháng sinh hay các thuốc đặc trị khác. Nếu có nhiễm trùng cơ hội nên được điều trị sớm theo đúng chỉ định của thầy thuốc.
- Điều trị phối hợp 3 loại thuốc kháng HIV
Hay còn gọi là điều trị ARV (Anti-Retro Virus), là điều trị phối hợp 3 loại thuốc kháng HIV nhằm mục đích:
- Ngăn chặn sự phát triển của HIV, giúp tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, từ đó nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ, giúp người bệnh tiếp tục làm việc, học tập.
- Làm giảm lượng virus HIV trong cơ thể nên làm giảm lây lan trong cộng đồng.





